Đổi mới hệ thống trợ giúp xã hội



Trong bối cảnh xã hội đang ngày một phát triển, vai trò của hệ thống trợ giúp xã hội (TGXH) càng trở nên quan trọng và cần thiết, góp phần thu hẹp khoảng cách giàu nghèo mang tính chất quy luật của nền kinh tế thị trường. Tuy nhiên, để thực hiện thành công vai trò ấy và bảo đảm những mục tiêu an sinh xã hội, đòi hỏi công tác TGXH phải sớm có những đổi mới mạnh mẽ, khắc phục triệt để những khuyết thiếu trong cơ chế, chính sách, làm thay đổi nhận thức, dần hướng đến tính chuyên nghiệp.

Hạn chế trong nhận thức

Theo thống kê của Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội (LĐ-TB&XH), hiện có khoảng hơn 20% số dân cần TGXH. Trong đó có 9,2 triệu người cao tuổi, 7,2 triệu người khuyết tật, 1,5 triệu trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt, gần 5% hộ nghèo, 1,8 triệu hộ gia đình cần được trợ giúp đột xuất hằng năm (do thiên tai, hỏa hoạn, mất mùa…), 234 nghìn người nhiễm HIV, 204 nghìn người nghiện ma túy, hơn 48 nghìn người bán dâm; khoảng 30 nghìn nạn nhân bị bạo lực, bạo hành trong gia đình. Ngoài ra, còn nhiều phụ nữ, trẻ em bị ngược đãi, bị buôn bán, bị xâm hại hoặc lang thang kiếm sống trên đường phố, chưa tính đến một số lượng không nhỏ người dân có một số nhu cầu TGXH khác do áp lực cuộc sống gây ra những tổn thương về tâm lý và thực hiện các chức năng xã hội. Câu hỏi đặt ra và cũng là thách thức cho sự phát triển xã hội là làm thế nào để có thể bảo đảm quyền an sinh của những người dân và những người yếu thế dựa trên nhu cầu một cách hiệu quả, chuyên nghiệp.

Từ trước đến nay, rất nhiều người có quan điểm chưa đúng về công tác TGXH. TGXH được hiểu chủ yếu là các hoạt động hỗ trợ thông qua các chương trình, dự án của Chính phủ cung cấp các khoản trợ cấp, hỗ trợ vật chất. Điều này dẫn đến kết quả của nhiều chương trình trợ giúp xã hội không những không đạt được mà còn tạo ra những “lỗ hổng” lạm dụng chính sách. Thí dụ như hỗ trợ giảm nghèo vốn là chủ trương đúng đắn và mang tính nhân văn nhưng lại tạo ra tính ỉ lại, phụ thuộc, trông chờ và tâm lý “không muốn thoát nghèo” để còn tiếp tục được hưởng trợ cấp.

Bên cạnh đó, việc hiểu TGXH là hoạt động nhân đạo, từ thiện cũng dẫn đến những sai lầm trong cách thức giúp đỡ, hỗ trợ những người yếu thế và quan trọng hơn là sự giúp đỡ mang tính nhân đạo này không thể đem lại hiệu quả lâu dài và bền vững do không dựa trên việc đánh giá nhu cầu toàn diện của người cần giúp đỡ. Những tư duy như vậy đã, đang và sẽ tạo ra sự lãng phí công sức, của cải vật chất và không tạo ra được “sự thay đổi” thật sự giải quyết những vấn đề tận gốc rễ của những khó khăn trong đời sống của những người cần trợ giúp.

Theo cách hiểu hiện đại, vấn đề cốt lõi của TGXH là làm thế nào để những người có nhu cầu TGXH sau khi được trợ giúp có thể vươn lên trong cuộc sống, tự tin làm chủ cuộc sống của mình và cũng chính là đóng góp cho sự đổi thay cải thiện chất lượng cuộc sống lâu bền. Chính vì vậy cần phải thay đổi tư duy TGXH không chỉ là “cho con cá” mà phải là sự kết hợp của “cho con cá” trong lúc cần hỗ trợ khẩn cấp với “giúp họ cần câu và phương pháp câu cá” về lâu dài, có nghĩa là họ cần được hỗ trợ kiến thức, phương pháp và công cụ để họ biết khai thác thế mạnh của bản thân tự giúp mình vượt qua khó khăn.

Chính sách, pháp luật còn bất cập

Tính đến nay, đã có hơn 10 bộ luật, luật; 7 pháp lệnh và hơn 30 nghị định, quyết định của Chính phủ; hơn 40 thông tư, thông tư liên tịch và nhiều văn bản có nội dung liên quan quy định khuôn khổ pháp luật, chính sách TGXH. Tuy nhiên, chưa có một bộ luật cụ thể riêng về TGXH, mà vấn đề này nằm rải rác ở nhiều luật khác nhau, dẫn đến những bất cập trong thực thi. Vì vậy, để có thể thực hiện được các chính sách TGXH hiệu quả, cần phải có khung chiến lược với tầm nhìn dài hạn, toàn diện quy chuẩn hệ thống văn bản pháp luật, trong đó có luật về trợ giúp xã hội với những quy định chi tiết, cụ thể.

Bên cạnh đó, các chính sách TGXH còn chồng chéo về mục tiêu, đối tượng hưởng lợi; phạm vi. Một số chính sách TGXH chưa thật sự bảo đảm mục tiêu công bằng, thủ tục hành chính, quy trình giải quyết chính sách phức tạp, khó tiếp cận, và không tạo cơ hội khuyến khích mở rộng chăm sóc đối tượng dựa vào cộng đồng và huy động sự tham gia của nhiều tổ chức ngoài công lập. Những rào cản về thể chế, chính sách và pháp luật như vậy dẫn đến những sai sót trong giải quyết chính sách, vi phạm chế độ và có thể tạo cơ hội “lách luật” tham ô trong giải quyết chính sách TGXH, ví như việc gạo hay dê “đi lạc” vào nhà cán bộ, hay lạm dụng, ngược đãi đối tượng yếu thế.

Chính sách cần tạo ra cơ chế rõ ràng trong việc tách bạch thực hiện chức năng quản lý nhà nước của các cơ quan, tổ chức quản lý với việc cung cấp các dịch vụ TGXH, tránh tình trạng vừa “quản lý, giám sát” vừa “thực thi”.

Quy hoạch lại hệ thống dịch vụ TGXH

Theo nhận định của Bộ LĐ-TB&XH, hệ thống dịch vụ TGXH hiện nay chưa được quy hoạch và phát triển theo cách tiếp cận hệ thống, đồng bộ, toàn diện, bao phủ hết đối tượng, gắn kết chặt chẽ trong mối tương quan với an sinh xã hội, phát triển các dịch vụ xã hội cơ bản và chuyên sâu đáp ứng nhu cầu của xã hội. Hiện nay, cả nước có 408 cơ sở TGXH, gồm 194 cơ sở công lập và 214 cơ sở ngoài công lập cung cấp các dịch vụ chăm sóc cho nhiều nhóm đối tượng như người cao tuổi, người khuyết tật, trẻ em, người tâm thần và các trung tâm công tác xã hội (CTXH) – một loại hình dịch vụ mới được triển khai theo Quyết định số 32/2010/QĐ-TTg ngày 25-3-2010 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án phát triển nghề CTXH giai đoạn 2010-2020. Các cơ sở đã tiếp nhận, nuôi dưỡng, chăm sóc 41.450 đối tượng bảo trợ xã hội, đáp ứng nhu cầu TGXH cho khoảng 30% đối tượng có hoàn cảnh khó khăn.

Tuy nhiên với hệ thống TGXH hiện nay để có thể hỗ trợ giải quyết các vấn đề xã hội thì còn bất cập, bởi mô hình của các cơ sở TGXH, đa phần chỉ mới đáp ứng các nhu cầu cơ bản về nuôi dưỡng và chăm sóc, các loại hình dịch vụ chuyên sâu hỗ trợ tâm lý và xã hội như tham vấn, trị liệu tâm lý, các hình thức can thiệp chuyên nghiệp như CTXH còn rất sơ khai và thiếu hụt. Số lượng người có khả năng tiếp cận các dịch vụ còn hạn chế, trong khi nhu cầu hỗ trợ tại gia đình và cộng đồng thì là rất lớn. Bên cạnh đó, vẫn còn những hạn chế đối với sự tham gia của các tổ chức, trong đó có các tổ chức ngoài công lập và chưa quyết tâm thực hiện chủ trương xã hội hóa các hoạt động TGXH.

Để từng bước nâng cao chất lượng hoạt động của hệ thống dịch vụ đang trở thành nhu cầu không nhỏ của xã hội này, một trong những yếu tố then chốt là xây dựng được đội ngũ nhân viên CTXH tham gia vào cung cấp dịch vụ hỗ trợ xã hội chuyên nghiệp. Vì vậy song song với việc thành lập các cơ sở cung cấp các dịch vụ CTXH, cần phải có chiến lược đào tạo, nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ CTXH tại các cơ quan quản lý dịch vụ, tại cơ sở và tại cộng đồng.

Cần sớm thay đổi quan niệm và cách nhìn nhận về công tác TGXH nhằm tạo điều kiện và cơ hội tăng cường năng lực hướng đến giải quyết vấn đề của nhóm yếu thế và có nhu cầu một cách bền vững. Đồng thời, cần hoàn thiện thể chế, chính sách và xây dựng luật về TGXH/CTXH tạo hành lang pháp lý thực hiện nghĩa vụ, trách nhiệm trong công tác TGXH; chuyên nghiệp hóa hệ thống và dịch vụ TGXH thông qua việc quy hoạch lại hệ thống cơ sở TGXH, chú trọng các cơ sở cung cấp dịch vụ CTXH tại gia đình, cộng đồng và khuyến khích sự tham gia của các tổ chức ngoài công lập. Cần dành sự quan tâm thích đáng đến công tác đào tạo đội ngũ nhân viên CTXH. Đây là những giải pháp cần được thực hiện để có thể đổi mới công tác TGXH nhằm mục tiêu bảo đảm quyền an sinh và chất lượng cuộc sống của người dân.

TS Nguyễn Thị Thái Lan

Chưa có bình luận nào

Tin khác đã đăng

Chinese (Simplified)EnglishFrenchGermanJapaneseKoreanRussianVietnamese